Thơ Phú Về Cuộc Đời Của 10 Thiên Can Trong Tử Vi Chi Tiết Nhất

Nội dung chính [Hiện]

Hãy cùng khám phá sâu hơn về bài phú cuộc đời của 10 Thiên Can trong Tử Vi, một khía cạnh quan trọng của nghệ thuật chiêm tinh Á Đông. Thiên Can và Địa Chi là những yếu tố quan trọng giúp chúng ta hiểu rõ hơn về sự hình thành và phát triển của vạn vật theo cách âm dương và ngũ hành tương tác. Đây là một hệ thống đặc biệt, được sử dụng để đánh dấu và đếm thời gian trong lịch Âm, và nó bao gồm 10 Thiên Can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Cùng trải nghiệm học thuật và sâu sắc của Tử Vi và khám phá những điều thú vị về cuộc sống và số phận thông qua sự kết hợp của các Thiên Can qua bài phú về cuộc đời của 10 Thiên Can theo chiết tự Hán mà người xưa đã đúc kết.

Thơ Phú Về Cuộc Đời Của 10 Thiên Can Trong Tử Vi Chi Tiết Nhất

Bài thơ phú về 10 Thiên Can

Giáp (甲) biến vi điền(田)

Ất (乙) biến vi vong (亡)

Bính(丙) biến vi tù (囚)

Đinh (丁) biến vi vu (于)

Mậu (戊) biến vi quả (寡)

Kỷ (己) biến vi ân (殷)

Canh (庚) biến vi cô (孤)

Tân (辛) biến vi toan (酸)

Nhâm(壬) biến vi vương (王)

Quý (癸) biến vi thiên(天)

Chú Giải:

 Phép “chiết tự” hay “Biến tự” là cách thay đổi số nét của chữ đi để thành 1 chữ khác gần giống với tự dạng (như chữ Giáp, chữ Điền) , hoặc thêm bớt bộ thủ trong chữ cho thành chữ khác (như chữ Quý, chữ Thiên), hoặc lấy âm (âm đọc tiếng trung) gần giống để thay thế.

10 bài thơ phú về cuộc đời của Thiên Can

1. Can Giáp (甲) 

Nhân sinh Giáp tự biến vi Điền

Phú quý vinh hoa thực lộc thiên

Phụ mẫu huynh đệ tha biệt sở

Phu thê nhị đại hậu song toàn

(Dịch Nôm)

Chữ Giáp có số đất điền

Bằng không cũng hưởng lộc tài tự nhiên

Anh em nào có cậy trông

Tha hương lập nghiệp mà nên cửa nhà

Vợ chồng thay đổi nhiều lần

Trai thay đổi vợ, gái thay đổi chồng

Cho hay duyên số ở trời

Khá làm âm đức, phước đành hậu lai

Số này tuổi nhỏ tay không

Lớn lên có của, vợ chồng làm ra

2. Can Ất (乙)

Nhân sinh Ất tự biến vi Vong

Gia thất, tiền tài tất thị không

Lục súc tị phiền du vong bại

Phu thê biến cải định nan phùng

(Dịch Nôm)

Người sinh chữ Ất gian nan

Lắm khi dào dạt, lắm lần tay không

Nuôi vật, vật cũng tang thương

Ở cùng bầu bạn chẳng phần đặng yên

Vợ chồng thay đổi lương duyên

Trai thay đổi vợ, gái thay đổi chồng

Số này sớm cách quê hương

Ra ngoài lập nghiệp mới nên cửa nhà

Cho hay số ở Thiên Tào

Người hiền lận đận, tuổi già nhờ con

3. Can Bính (丙)

Nhân sinh Bính tự biến vi Tù

Lão thiểu vô an hạn bất chu

Sở hữu ngoại nhân y hữu định

Thân cư quan quý quá niên trường

(Dịch Nôm )

Chữ Bính số cũng quạnh hiu

Người sinh chữ ấy trọn đời âu lo

Tuổi nhỏ bịnh hoạn ốm đau

Lớn tuổi cô quạnh một mình thảm thương

Số này lập nghiệp tha phương

Có chí tu niệm kính tin Phật Trời

Nếu mà giữ dạ hiền lương

Tuổi già sẽ được lộc tài tự nhiên

Những người có chí thiện nhân

Có khi lao khổ có ngày thảnh thơi.

4. Can Đinh (丁)

Nhân sinh Đinh tự biến vi Vu

Gia thất tiền tài bất định tu

Trung vận trùng lai vinh phú đắc

Thiếu niên lao khổ uổng công phu

(Dịch Nôm )

Chữ Đinh biến vi chữ Du

Số nhỏ bệnh tật ốm đau thường thường

Lắm lần tai nạn thảm thương

Nhờ có hồng phước Phật Trời chở che

Lớn lên thông tuệ khác thường

Có quyền có chức có tài tự nhiên

Có chí sáng tác mọi ngành

Có tài có đức cầm quyền điểm binh

Xét xem qua số nợ duyên

Trai đôi ba vợ, gái thì truân chuyên

Nết na đức hạnh dung hoà

Nhưng mà cũng chịu vui chiều buồn mai

Cho hay căn số tự Trời

Duyên đầu lỡ dở hiệp hoà duyên sau

Có căn tích thiện tu nhân

Tuổi già chung hưởng lộc tài ấm no

5. Can Mậu (戊) 

Nhân sinh Mậu tự biến vi Quả

Phiêu phất tha phương định thất gia

Cô độc nhất thân vô phương định

Hành thân phản mại lạc ngâm nga

(Dịch Nôm )

Chữ Mậu cô quạnh tha phương

Lìa nhà xa xứ, lắm lần gian nan

Anh em ruột thịt chẳng hoà

Tha phương bầu bạn chỉ nhờ người dưng

Gái thì lận đận lương duyên

Khi thì vui vẻ khi tan nát lòng

Đôi lần mới đặng thành công

Tuổi trẻ lao khổ, tuổi già nhờ con

Tánh hay tích thiện từ hoà

Tin Trời, tưởng Phật lòng hàng ái tha

Những ai có chí tu nhơn

Tuy rằng hoạn nạn, phước còn hậu lai

6. Can Kỷ (己) 

Nhân sinh Kỷ tự biến vi Ân

Gia thất tiền mệnh phú vinh

Gia sự đa tài, sinh hiếu tử

Hữu thời tấn tới tự phi vân

(Dịch Nôm )

Chữ Kỷ biến vi chữ Ân

Tánh thì mau mắn làm ơn cho người

Tấm lòng trung trực vẹn bề

Làm ơn nên oán, nhiều lần tân toan

Của, con có sẵn tuổi già

Tuổi trẻ lao khổ tha phương lập thành

Nhiều khi tán tụ như sương

Khi ăn chẳng hết,khi thì tay không

Nợ duyên tan vỡ buồn lòng

Đôi lần ly hiệp mới nên gia đình

Khá nên tích thiện tu thân

Tuổi già sẽ thấy môn đình sum vinh

7. Can Canh (庚)

Nhân sinh Canh tự biến vi Cô

Số ấn công hầu lưu khách địa

Gia thất lập thân thừa tổ đức

Phước tài tái tận mãn vinh hoa

(Dịch Nôm )

Nhân sinh Canh tự biến vi Cô

Số ấn công hầu nên danh phận

Bằng không thì cũng lắm nghề khéo thay

Vợ chồng cách trở sơn xuyên

Đôi lần ly hiệp mới nên cửa nhà

Gái thì hiu quạnh muộn màng

Bằng không thì cũng đôi lần mới nên

Số này tu niệm thì hay

Hậu lai sẽ hưởng phước dày lộc cao

Có đâu thiên vị người nào

Số cao thì hưởng lộc tài tự nhiên

8. Can Tân (辛) 

Nhân sinh Tân tự biến vi Tan

Tánh khí hiền lương lập nghiệp nan

Phu phụ nhất tâm lưỡng nhân thú

Bằng hữu cự tộc tối vinh quang

(Dịch Nôm )

Chữ Tân biến vi chữ Toan

Gia đình dời đổi đắng cay muôn vàn

Một thân tự lập mà nên

Tha phương lắm độ phong sương hải tần

Lương duyên thay đổi đôi lần

Tuổi già phú túc miên miên cửu trường

Những người có chí thiện nhân

Trời dành hậu quả hưởng nhờ phước dư

9. Can Nhâm(壬)

Nhân sinh Nhâm tự biến vi Vương

Thân thọ mạng trường thiên số chung

Tị hiềm hung đồ tha biệt sở

Thân cư quan quý hậu an khương

(Dịch Nôm )

Chữ Nhâm biến vi chữ Vương

Thân thì thọ số, mạng thì vinh quang

Có lần cách trở gia hương

Xứ xa lập nghiệp, vinh quang ai bì

Số này nghiệp tổ không nhờ

Thân lưu đất khách lập nên cơ đồ

Trai thì vợ đôi,vợ ba

Gái thì số cũng đôi lần mới nên

Khá nên tích đức thiện nhơn

Hậu lai sẽ hưởng phước Trời ấm no

10. Can Quý(癸)

Nhân sinh Quý tự biến vi Thiên

Tiền hậu phu thê y lộc nhiên

Chức phận văn chương đa phú quý

Trí tuệ vinh hoa hưởng thọ trường

(Dịch Nôm )

Chữ Quý biến vi chữ Thiên

Trai thời chức phận, gái thời chính chuyên

Số này cũng có đất điền

Gia môn phú túc thọ trường bền lâu

Vợ chồng hoà thuận đủ điều

Khi ra phong nhã, khi vào hào hoa

Nếu mà tích thiện, tu thêm

Ngày sau con cháu miên miên cửu trường

Lời kết

Bài thơ về 10 Thiên Can đã đưa chúng ta vào một hành trình sâu rộng, khám phá sự kết hợp độc đáo giữa Thiên Can và Địa Chi trong Tử Vi. Qua những vần thơ, chúng ta đã nhìn thấy sự hòa quyện của âm dương, ngũ hành và thời gian, tạo nên bức tranh phong cảnh độc đáo của cuộc đời. Hy vọng rằng bài thơ này đã giúp bạn hiểu thêm về tinh thần và triết lý đằng sau nghệ thuật chiêm tinh Á Đông cũng như sự thâm thúy của ông cha ta về nhân sinh. Hãy tiếp tục trải nghiệm và tìm hiểu sâu hơn về Tử Vi, để chúng ta có thể khám phá thêm về bản chất của cuộc sống và chiêm nghiệm về số phận của mình.